Việt Nam xuất hiện siêu vi khuẩn kháng tất cả kháng sinh, bác sĩ hết cách

Việt Nam đã xuất hiện vi khuẩn kháng toàn bộ kháng sinh kể cả loại mạnh nhất, bệnh nhân chỉ còn cách để cơ thể tự chống đỡ.

Bác sĩ bất lực, bệnh nhân nằm chờ

Bên lề khóa đào tạo nâng cao chất lượng phòng xét nghiệm kháng kháng sinh vừa diễn ra, PGS.TS Đoàn Mai Phương, nguyên trưởng khoa Vi sinh, BV Bạch Mai cho biết, vi khuẩn kháng kháng sinh hiện là mối quan tâm của cả thế giới khi tốc độ tìm ra kháng sinh mới không kịp với mức độ gia tăng của các vi khuẩn kháng thuốc, tại một số nước thậm chí không thể kiểm soát.

Trong hơn 5 năm (từ 1983 – 1987), cơ quan Quản lý Dược và thực phẩm Mỹ mới chỉ cấp giấy chứng nhận sử dụng cho 18 loại kháng sinh. Còn từ năm 2008 đến nay, không có thêm kháng sinh mới nào được tìm ra.

Bản đồ về tình trạng kháng kháng sinh trên toàn thế giới đến năm 2050, với khoảng 10 triệu người tử vong

Hiện tại, mỗi năm thế giới có khoảng 700.000 tử vong do kháng thuốc. Với tình hình này, WHO dự tính đến năm 2050, cứ 3 giây sẽ có 1 người tử vong do các siêu vi khuẩn kháng thuốc, tương đương với khoảng 10 triệu người mỗi năm. Khi đó, các bệnh thông thường như ho hay chỉ một vết cắt cũng có thể gây tử vong.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xếp Việt Nam vào nhóm các nước có tỉ lệ kháng kháng sinh cao nhất thế giới.

Theo PGS Phương, hiện tại Việt Nam đã xuất hiện vi khuẩn đa kháng (kháng 2 nhóm kháng sinh) và toàn kháng (kháng với tất cả kháng sinh). Đó là lí do vì sao, nhiều nước phát triển sử dụng kháng sinh thế hệ 1 vẫn điều trị hiệu quả thì tại Việt Nam đã phải dùng kháng sinh thế hệ 3 và 4.

Đơn cử như tỉ lệ kháng thuốc của nhóm vi khuẩn gram âm như E.coli (vi khuẩn đường ruột) đã lên tới 30-40%, kháng luôn cả kháng sinh mạnh nhất là colistin. Thậm chí, tại một số tỉnh phía Nam, tỉ lệ kháng thuốc của E.coli còn lên tới hơn 74%; tỉ lệ kháng của vi khuẩn gây nhiễm trùng K. pneumoniae lên tới gần 60%; vi khuẩn A.baumannii (gây nhiễm khuẩn bệnh viện) có tỉ lệ kháng với hầu hết các loại kháng sinh ở mức trên 90%…

“Do là BV tuyến cuối, nên tại BV Bạch Mai gặp rất nhiều bệnh nhân bị đa kháng thuốc, kháng mở rộng và toàn kháng. Với trường hợp toàn kháng, khi đó, bác sĩ cũng bất lực, chỉ có thể giúp bệnh nhân truyền dịch, nâng cao thể trạng, tăng cường dinh dưỡng để cơ thể tự chống đỡ với vi khuẩn”, PGS Phương thông tin.

Xét nghiệm kháng sinh đồ vô cùng quan trọng

Theo PGS Phương, để xác định một loại vi khuẩn có kháng kháng sinh hay không hay do bác sĩ dùng kháng sinh chưa đủ liều, bắt buộc phải làm kháng sinh đồ tại phòng xét nghiệm vi sinh.

PGS.TS Đoàn Mai Phương

Nếu kết quả xét nghiệm cho thấy, bệnh nhân nhiễm vi khuẩn kháng kháng sinh, ngay lập tức sẽ báo với bác sĩ điều trị để cách ly bệnh nhân, giúp vi khuẩn kháng thuốc không lây lan cho các các bệnh nhân khác, đồng thời giúp kéo dài tuổi thọ sử dụng kháng sinh đang có.

Tuy nhiên hiện nay, chỉ một số ít BV có phòng vi sinh đạt chuẩn, còn lại chất lượng ở mức thấp do phải đầu tư trang thiết bị hiện đại và chưa đủ nhân lực có trình độ để vận hành.

Do đó, để thực hiện hiệu quả chương trình phòng chống kháng thuốc quốc gia, việc đưa các phòng xét nghiệm vi sinh đạt chuẩn tại các BV vào hoạt động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Hiện tại, theo thang của Bộ Y tế, phòng xét nghiệm vi sinh hoàn thiện nhất phải đạt mức 5 theo Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện. Tuy nhiên lâu nay chưa có bảng kiểm chi tiết.

Với sự hỗ trợ của chuyên gia đến từ Anh, các BV Bạch Mai, Bệnh nhiệt đới TƯ, Bệnh nhiệt đới TP.HCM, BV TƯ Huế, Chợ Rẫy, trường y Government Medical College, Ấn Độ được tiếp cận hệ thống bảng kiểm mới AMR Scorecard để đánh giá phòng xét nghiệm của BV đang ở mức độ nào, từ đó đưa ra hướng cải tiến.

AMR Scorecard bao gồm bảng kiểm theo từng mô-đun cho xét nghiệm nuôi cấy và kháng sinh đồ bệnh phẩm máu, nước tiểu và phân, trong đó rất chuyên biệt cho kháng kháng sinh.

Theo PGS Phương, để hạn chế tình trạng kháng kháng sinh, ngoài nỗ lực từ bệnh viện, từ nhân viên y tế, bản thân cộng đồng, người dân cũng phải có trách nhiệm. Trong đó, hạn chế mua kháng sinh không có đơn, không sử dụng kháng sinh theo kiểu truyền miệng, hạn chế dùng kháng sinh trong chăn nuôi.

“Người dân Việt Nam hay cho rằng bác sĩ sử dụng kháng sinh mạng mới tốt, điều nay hoàn toàn sai, tốt nhất là chỉ nên điều trị kháng sinh phổ hẹp. Nếu dùng kháng sinh mạnh luôn, đến khi mắc loại vi khuẩn mạnh hơn sẽ không còn kháng sinh để điều trị”, PGS Phương khuyến cáo.

Plasma lạnh – 1 trong 5 bước tiến mới của nền y học thế kỷ 21

Trong khoảng hơn 10 năm gần đây, các nước tiên tiến trên thế giới đã tập trung nhiều nguồn lực cho việc nghiên cứu ứng dụng plasma lạnh trong các lĩnh vực như y sinh, hóa học…

Các thử nghiệm tiền lâm sàng và lâm sàng cho thấy sự an toàn, hiệu quả diệt khuẩn và làm liền vết thương rõ rệt ở bệnh nhân.
Plasma là gì?

Năm 2005, plasma lạnh áp suất khí quyển – CAP, lần đầu tiên được sử dụng để điều trị lâm sàng tại Đức, mở ra kỷ nguyên của “thuốc plasma” (plasma medicine). Khái niệm “thuốc plasma” không phải huyết tương như vẫn thường được biết trong y học mà là một ứng dụng của plasma vật lý. Từ lâu, tính năng diệt khuẩn của plasma nóng hay plasma áp suất thấp đã được biết và sử dụng rộng rãi trong vệ sinh dịch tễ và y tế. Tuy vậy, plasma nóng có thể làm hại đến mô xung quanh nên vẫn chỉ được dùng khá hạn chế trên người.

Môi trường Plasma có tác dụng diệt khuẩn và kích thích mô hạt tại vết thương.

Để phát triển các thiết bị plasma lạnh áp suất khí quyển cần sự cộng tác liên ngành của các nhà vật lý, kỹ sư, hóa học, sinh học và các bác sĩ lâm sàng. Các sản phẩm của loại plasma này như electron, ion, hoạt chất, tia cực tím và nhiệt có thể điều khiển được hoặc thay đổi cho phù hợp với các ứng dụng. Để ứng dụng trên con người yếu tố “an toàn” phải được đặt lên hàng đầu có nghĩa các thành phần của plasma phải tiêu diệt mầm bệnh một cách hiệu quả, kích thích liền vết thương nhưng đồng thời phải không gây ảnh hưởng xấu đến mô lành.

Hiện nay, có 3 hướng tiếp cận để tạo ra những thiết bị plasma lạnh này: Các nguồn plasma trực tiếp, nguồn plasma gián tiếp và một hướng tiếp cận mới là nguồn hỗn hợp (có ưu điểm điều trị diện rộng và hiệu quả với cả vết thương phức tạp). Nguồn plasma hỗn hợp cho phép thực hiện được nhiều kỹ thuật khó, phức tạp và giá rẻ. Do tập trung nhiều nguồn lực nghiên cứu, plasma y tế đã có sự phát triển vượt bậc cả về khoa học và công nghệ, an toàn, hiệu quả mang lại nhiều triển vọng trong y học và lợi ích cho người bệnh.
Các ứng dụng của plasma

Ứng dụng của plasma trong điều trị các vết thương cấp tính như bỏng, vết mổ, vết thương mới; các vết thương mạn tính như loét đái tháo đường, loét do tì đè, loét do nằm lâu…; ứng dụng trong da liễu để điều trị nấm, chàm…; các ứng dụng trong thẩm mỹ chữa mụn trứng cá, điều trị các vết chàm, sau phẫu thuật thẩm mỹ, sau các thủ thuật thẩm mỹ, làm đẹp,…

Bên cạnh đó, plasma còn ứng dụng để làm liền vết thương: Quá trình liền vết thương tại các vết thương mạn tính thường bị ảnh hưởng bởi quá trình viêm. Vấn đề màng sinh học tại vết thương mạn tính dẫn tới vết thương lâu liền, không liền đang làm đau đầu các bác sĩ lâm sàng. Hiện nay có rất ít phương pháp có khả năng loại bỏ được màng sinh học. Hơn nữa, vấn đề kháng kháng sinh đang ngày càng là thách thức cần phải được giải quyết trong thế kỷ 21. Tuy nhiên, những thử nghiệm lâm sàng đầu tiên sử dụng plasma lạnh có phổ diệt khuẩn rất rộng đã được nghiên cứu rộng rãi và chứng minh hiệu quả trên lâm sàng.

Hơn nữa, do tính chất vật lý của plasma nên khả năng hình thành kháng khuẩn hầu như không xảy ra. Ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới, thiết bị plasma lạnh đã vượt qua thử nghiệm lâm sàng và được hội đồng đạo đức cho phép tác động trực tiếp lên con người (Đức, Nhật Bản, Pháp, Mỹ,…). Cho đến nay, nhiều công bố khoa học cho thấy tia plasma lạnh điều trị làm liền vết thương hiệu quả cao và không gây hiệu ứng phụ. Nhiều thử nghiệm lâm sàng đã được tiến hành đều khẳng định plasma lạnh là một kỹ thuật mới trong điều trị vết thương. Thử nghiệm lâm sàng trên 3.500 bệnh nhân mang lại hiệu quả cao và được công bố rộng rãi trên nhiều tạp chí khoa học có uy tín trên thế giới.

CHIA SẺ